Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ
thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng
thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên - những tên tuổi ảnh hưởng lớn
tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông chuyên về chất liệu sơn
dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông
đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái.
Tranh phố của Bùi Xuân Phái vừa cổ kính lại
rất hiện thực, thể hiện rõ hồn cốt của phố cổ Hà Nội những
thập niên 50, 60, 70. Các mảng màu trong tranh Phái thường có đường viền đậm nét, phố không
những trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan
đều có chiều sâu bên trong. Ngắm tranh phố cổ của Phái, người xem nhận thấy họa
sĩ đã gửi gắm những kỉ niệm, những hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối
bâng khuân trên từng nét vẽ, như điềm báo về sự đổi thay và biến mất của từng
mái nhà, từng con người mang hồn phách xưa cũ.
Khám phá đầu tiên của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái về phố là bức sơn dầu "Phố Hàng
Phèn" (năm 1940), được vẽ trước khi ông vào học trường cao đẳng Mỹ Thuật
Đông Dương. Sau đó bức này được gửi tham dự triển lãm Tokyo - Nhật Bản, và có
người mua ngay lập tức.
Giai đoạn Khởi đầu 1950 đến 1960:
Từ năm 1950 đến năm 1960, Bùi Xuân Phái chưa định hình rõ phong cách và cũng
chưa chuyên sâu hẳn vào một đề tài nào, ông thường có vẽ những bức mang tính
thể nghiệm, đột phá theo trường phái hiện đại lúc bấy giờ, tiêu biểu như những
bức khỏa thân và tĩnh vật được thể hiện theo trường phái lập thể. Ông cũng có
một số bức vẽ phố cổ, được thể hiện kỹ lưỡng và nhiều chi tiết nhưng chưa độc
đáo (giai đoạn về sau này là tranh phố của ông luôn được khái quát và lược bỏ
đi nhiều chi tiết trong thực tế). Bức phố Hàng Thiếc (sơn dầu), được Bùi Xuân
Phái vẽ năm 1952, chữ ký bên góc phải cho thấy lúc đó họa sĩ ký cả họ và tên.
Bức này được nhà văn Nguyễn Tuân bày tại phòng khách rất lâu.
Có thể chia ra mảng đề tài vẽ phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ra ba giai đoạn:
- Từ 1960 đến 1970 : Thời kỳ Nâu
- Từ 1970 đến 1980 : Thời kỳ Ghi Xám
- Từ 1980 đến 1988 : Thời kỳ Lam
* Thời kỳ Nâu 1960 đến 1970:
Có thể nói Thời Kỳ Nâu mang dấu ấn đặc trưng nhất về phong cách,
tinh thần của Bùi Xuân Phái. Những bức vẽ trong thời kỳ này phản ánh khung cảnh
của phố cổ Hà Nội nguyên chất nhất, chưa bị sửa sang, cơi nới. Cũng không lấy
làm lạ khi phần nhiều những người Hà Nội có tuổi và am hiểu mỹ thuật thường yêu
thích thời kỳ này hơn cả, trong khi giới trẻ và người ngoại quốc lại nồng nhiệt
yêu thích Thời kỳ Lam.
Tranh ông trong giai đoạn này thường bàng bạc nỗi buồn da diết, cô
đơn, hoài cổ, như tiếc nuối một thời tuổi trẻ đã mất, phố thường vắng bóng
người qua, các căn nhà có cửa mặt tiền luôn đóng chặt với dáng vẻ trầm mặc,
những mái nhà thâm nâu của khu phố cổ im lìm dưới sức nặng của bầu trời xám như
dự báo một cơn giông sắp ập xuống. Điều đặc biệt là các ô cửa chỉ được mô tả
bằng một vệt mầu thẫm.
Đây là thời kỳ sung sức và cũng khốn khó nhất trong sự nghiệp nghệ thuật của Bùi Xuân Phái. Tranh ông nhuốm vẻ trầm buồn sâu xa, nét bi ai, sự cô đơn khốn khổ. Tranh tựa như một phương tiện giải tỏa ẩn ức nội tâm cũng như ý thức về sự bất lực của ông trước cuộc đời.
Hiện nay, những bức tranh được các nhà sưu tập đặt giá cao nhất
vẫn thuộc về những tác phẩm được vẽ trong Thời kỳ Nâu. Thí dụ như bức "Hà
Nội kháng chiến" (vẽ năm 1966) đã được khởi giá là 200.000 USD trên trường
quốc tế.
* Thời kỳ Ghi xám 1970 đến 1980:
Không nên hiểu là hễ thấy bức mang tông mầu nào là xếp nó vào thời
kỳ đó. Thường thì các chuyên gia chỉ cần thoáng nhìn đã biết ngay bức tranh đó
được vẽ vào thập niên nào, bởi ngoài gam mầu và bút pháp, người ta còn căn cứ
vào cảnh và người trong tranh của ông.
Thời kỳ xám có điểm nổi bật nhất là trên phố không còn người đàn ông mặc áo dài và cầm ô đi trên hè phố nữa. Những người bán dong cũng có trang phục khác, các ô cửa sổ được vẽ kỹ lưỡng và chi tiết hơn, xe bò không được phép đi vào thành phố nữa nên không hiện diện trong tranh ông.
Trong thập niên 70, họa sĩ rơi và cảnh khó khăn, ngặt nghèo cả về kinh tế lẫn tinh thần. Trong nhật ký, ông từng viết: "Cuộc sống nào thấy gì vui? Chỉ thấy kinh khủng và kinh khủng". ....
Thời kỳ này Bùi Xuân Phái vẽ tranh phố cổ Hà Nội bằng bột mầu, nhiều bức được vẽ trên giấy báo, được thể hiện với gam mầu ghi xám. Phố trong tranh ông đã bớt đi vẻ cô liêu, trầm mặc, nét vẽ tung tẩy, nhẹ nhàng, nhiều bức phố của ông ngả dần theo hướng trừu tượng, nhiều bức mang tính chất thể nghiệm... Đây là giai đoạn hưng phấn và được sáng tác nhiều tranh cùng các đề tài khác trong sự nghiệp của ông
Thời kỳ xám có điểm nổi bật nhất là trên phố không còn người đàn ông mặc áo dài và cầm ô đi trên hè phố nữa. Những người bán dong cũng có trang phục khác, các ô cửa sổ được vẽ kỹ lưỡng và chi tiết hơn, xe bò không được phép đi vào thành phố nữa nên không hiện diện trong tranh ông.
Trong thập niên 70, họa sĩ rơi và cảnh khó khăn, ngặt nghèo cả về kinh tế lẫn tinh thần. Trong nhật ký, ông từng viết: "Cuộc sống nào thấy gì vui? Chỉ thấy kinh khủng và kinh khủng". ....
Thời kỳ này Bùi Xuân Phái vẽ tranh phố cổ Hà Nội bằng bột mầu, nhiều bức được vẽ trên giấy báo, được thể hiện với gam mầu ghi xám. Phố trong tranh ông đã bớt đi vẻ cô liêu, trầm mặc, nét vẽ tung tẩy, nhẹ nhàng, nhiều bức phố của ông ngả dần theo hướng trừu tượng, nhiều bức mang tính chất thể nghiệm... Đây là giai đoạn hưng phấn và được sáng tác nhiều tranh cùng các đề tài khác trong sự nghiệp của ông
* Thời kỳ Lam 1980 đến 1988:
8 năm cuối cùng của cuộc đời, tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái
được mời đi triển lãm ở nhiều nước, nên công chúng Việt và thế giới biết đến
tên tuổi ông nhiều hơn. Lúc này tranh phố của ông mới nhẹ nhõm hơn, xuất hiện
những gam mầu ấm của nắng, của tà áo đỏ qua đường...
Giá trị của các phố cổ là giá trị của thời gian lắng đọng ở những mái ngói, những bức tường rêu phong của chúng. Bùi Xuân Phái cũng đã từng nhận xét là trong sự rêu phong cổ kính có "màu thời gian". Thời gian cũng đã làm cho các bức tranh của ông càng ngày càng có giá trị, từ chỗ mỗi bức chỉ đổi được vài lạng cà phê, dăm bao thuốc lá dưới thời bao cấp, đến chỗ mỗi bức là cả một gia tài theo qui luật "giá trị thặng dư của thời gian". Tuy nhiên, thời gian đã làm điều này quá chậm đối với cá nhân Bùi Xuân Phái, hay nói cách khác là ông đã không ở lại trần thế để thụ hưởng thành quả lao động nghệ thuật của mình.
Giá trị của các phố cổ là giá trị của thời gian lắng đọng ở những mái ngói, những bức tường rêu phong của chúng. Bùi Xuân Phái cũng đã từng nhận xét là trong sự rêu phong cổ kính có "màu thời gian". Thời gian cũng đã làm cho các bức tranh của ông càng ngày càng có giá trị, từ chỗ mỗi bức chỉ đổi được vài lạng cà phê, dăm bao thuốc lá dưới thời bao cấp, đến chỗ mỗi bức là cả một gia tài theo qui luật "giá trị thặng dư của thời gian". Tuy nhiên, thời gian đã làm điều này quá chậm đối với cá nhân Bùi Xuân Phái, hay nói cách khác là ông đã không ở lại trần thế để thụ hưởng thành quả lao động nghệ thuật của mình.
Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài
khác, như: chèo, chân dung, nông
thôn, khỏa thân, tĩnh vật... rất thành công. Nhiều tranh của Bùi Xuân Phái đã
được giải thưởng trong các cuộc triển lãm toàn quốc và thủ đô. Ông vẽ trên vải, giấy, bảng gỗ, thậm chí cả trên giấy báo khi
không có đủ nguyên liệu. Ông dùng nhiều phương tiện hội họa khác nhau như sơn
dầu, màu nước, phấn màu, chì than, bút chì... Các tác phẩm của ông biểu hiện
sâu xa linh hồn người Việt, tính cách nhân bản và lòng yêu chuộng tự do, óc hài
hước, đậm nét bi ai và khốn khổ. Ông đã góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa
báo chí và trình bày bìa sách, được trao tặng giải thưởng quốc tế (Leipzig ) về trình bày
cuốn sách “Hề chèo” (1982).
Do tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm,
từ năm 1957 trở đi, hoạt động của ông dần bị hạn chế. Để kiếm sống, ông phải vẽ
tranh minh họa và tranh vui cho
các báo, lấy bút hiệu là: PiHa, ViVu, Ly. Mãi đến năm 1984 ông mới có được cuộc
triển lãm cá nhân (đầu tiên và cũng là duy nhất), nhận được sự đánh giá cao từ
phía công chúng, đồng nghiệp. Với 24 bức tranh được khách hàng đặt mua ngay
trong ngày khai mạc, có thể coi đây là triển lãm thành công nhất so với trước
đó tại Việt Nam .
Đó cũng là lần đầu tiên, Đài
truyền hình Trung ương dành thời
lượng lớn phát sóng để giới thiệu về cuộc đời và tác phẩm của Bùi Xuân Phái
trong chương trình Văn học Nghệ thuật.
Mặc dù cuộc sống khó khăn nhưng với tình
yêu nghệ thuật, khát khao tìm tòi và thể hiện cái đẹp dung dị đời thường bằng
những nét vẽ cọ, Bùi Xuân Phái đã không ngừng vẽ, sáng tạo nghệ thuật ngay cả
khi không mua được vật liệu và ông đã phải tận dụng mọi chất liệu như vỏ bao
thuốc lá, giấy báo… Ông cũng là họa sĩ đã gạt bỏ mọi toan tính đời thường để
cho ra đời các tác phẩm dung dị, đơn giản nhưng đầy tâm tư sâu lắng. Năm 1996,
ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Cho đến nay, công chúng yêu tranh nói đến
Phố cổ còn gọi là Phố Phái, xứng với tài năng và lao động nghệ thuật của họa
sĩ. Họa sĩ Bùi Thanh Phương - con trai họa sĩ Bùi Xuân Phái - đồng thời là
người " gác của thế giới Phái" tự hào viết những dòng cảm xúc về
người cha tài hoa của mình: " Tôi đã chứng kiến giây phút cuối cùng của
ông và không thể quên được cặp mắt ấy, cái nhìn choáng váng nghi hoặc ấy. Ông
tỏ ra bình thản và dường như không luyến tiếc trần thế, nhưng trần thế luyến
tiếc ông, người họa sĩ tài hoa đã để lại dấu ấn đậm sâu của mình qua hàng ngàn
bức họa mà ông đã để lại cho đời."
Thu Trang

.jpg)